Hàng chính hãng của Panasonic Việt Nam. Bảo hành 12 tháng trên toàn quốc.
Tặng thẻ nhớ 2GB, bao da, miếng dán
Thông tin chi tiết:
+ Độ phân giải: 16.1 Mega pixels
+ Cảm biến: CCD, 1/2.33”
+ Zoom quang học: 4x (28 - 112mm)
+ Zoom kĩ thuật số: 4x
+ Màn hình: 2.7" TFT LCD (230.000 Pixels)
+ Ống kính: Leica DC Vario-Summicron
+ Độ nhạy sáng: Auto, 100, 200, 400, 800, 1600 (6400 chế độ cao)
+ Chế độ tự chụp: 2 hay 10 giây
+ Định dạng hình ảnh: JPEG, DPOF
+ Khẩu độ: F3.1 - F6.5
+ Quay phim: HD Movie: 1280 x 720 pixels, 30fps; 640 x 480 pixels, 320 x 240 pixels 30 fps
+ Thẻ nhớ: SD/SDXC/SDHC card
+ Bộ nhớ trong: 70MB
+ Kết nối: DC Input, A/V Output (NTSC/PAL), USB
+ In trực tiếp bằng PictBridge
+ Tính năng: chống mắt đỏ, nhận dạng khuôn mặt
+ Hỗ trợ nhiều chế độ chụp
+ Pin: pin sạc Lithium-Ion
+ Thời gian chụp khoảng 250 tấm
+ Kích thước: 94.3 x 53.5 x 18.8mm
+ Cân nặng: 121g, bao gồm pin.
Màu sắc: Đen/ Bạc/ Vàng/ Tím/ Hồng
Bài viết đánh giá;
Đánh giá Panasonic Lumix DMC-FH5
Panasonic
Lumix FH5 được tung ra thị trường đầu năm nay với người anh em FH2. Hai
phiên bản này có cấu hình và tính năng tương tự nhau, chỉ khác là FH5
có cảm biến 16 triệu điểm ảnh so với 14 triệu của FH2. Tùy từng thị
trường, hai phiên bản này còn có tên mã lần lượt là FS18 và FS16. Phiên
bản Lumix FH5 là bước nâng cấp từ bản FH3 ra đời gần một năm trước với
một số thay đổi như số điểm ảnh tăng từ 14 lên 16 triệu, ống kính vẫn
Leica nhưng zoom quang giảm từ 5x xuống 4x, góc rộng dù vẫn giữ nguyên
28mm nhưng tiêu cự lại giảm còn 112mm thay vì 140mm trước đây. Bù lại,
thân máy được chế tạo mỏng hơn, chỉ 19mm. Lumix FH5 có màn LCD 2,7 inch
và khả năng quay phim HD 720p 24 khung hình/giây.
Máy ảnh này đang được bán tại thị trường trong nước với giá gần 5 triệu đồng.
Thiết kế, tính năng
 |
| Lumix FH5 mỏng hơn bản tiền nhiệm. Ảnh: Stevens-digicams. |
Về
mặt hình thức, ngoài việc mỏng hơn, thiết kế của Lumix FH5 không có
nhiều khác biệt so với phiên bản trước. Mặt trước cũng gồm một vòng bạc
lớn bao quanh ống kính, chữ Lumix được bố trí ở chính giữa. Một viền bạc
hơi gờ lên ở cạnh phải hỗ trợ việc cầm máy một tay. Viền bạc cạnh bên
chỉ bọc từ cạnh trái lên cạnh trên với nút chụp ảnh/vòng zoom và công
tắc nguồn.
Mặt
sau là màn hình 2,7 inch chiếm phần lớn diện tích. Chính giữa là nút
Menu cùng các phím điều hướng vừa dùng để di chuyển, vừa là các phím
truy cập nhanh tới các chức năng hay dùng như bù sáng, đèn, hẹn giờ hay
Macro. Các nút truy cập các chế độ, hiển thị và xóa được bố trí riêng
rẽ. Một điều đáng tiếc là nút chuyển giữa chế độ chụp và xem lại ảnh
thay vì là nút bấm để có thể quay về chế độ chụp bất cứ lúc nào vốn rất
tiện dụng trên các máy du lịch gần đây, kể cả của chính Panasonic thì
nay lại được thay bằng dạng công tắc, khá bất tiện khi người dùng chuyển
qua lại giữa hai chế độ.
Các
cổng kết nối được bố trí ở cạnh phải với chỉ một kết nối cho cả USB và
AV, không có cổng HDMI cho dù phiên bản này cũng quay phim HD 720p. Đèn
flash tích hợp cho khoảng sáng hiệu dụng khoảng 3,3m và thời gian hồi
khá nhanh, khoảng 3 giây. Lumix FH5 sử dụng pin Lithium 660mAh với thời
lượng chụp đạt khoảng 250 ảnh mỗi lần sạc.
 |
| Ống kính chỉ 4x. Ảnh: Camera. |
Ống
kính của FH5/FH5 có vẻ "xuống đời" nhất khi chỉ có 4x (28 – 112 mm) so
với đời trước 5x. Mặc dù cũng được trang bị ống Leica với hệ thống chống
rung MEGA O.I.S nhưng độ mở tối đa của FH5/FH5 cũng chỉ đạt f/3.1 thay
vì f/2.8 trên bản tiền nhiệm. Không chỉ có vậy, so với đối thủ cạnh
tranh trực tiếp Canon PowerShot A3300 IS, phiên bản này cũng bị kém hơn ở
dải tiêu cự tele khi Canon cũng trang bị cho bản này góc rộng 28mm và
zoom quang lên tới 5x.
 |
| Màn hình 2,7 inch. Ảnh: Dc-zone. |
Panasonic
cho biết phiên bản FH5 với bộ xử lý hình ảnh mới Venus VI cho phép máy
ảnh có tốc độ khởi động còn nhanh hơn bản tiền nhiệm (1,01 giây), tuy
nhiên, qua thử nghiệm phiên bản này cũng phải mất khoảng 1,5 giây mới ở
tình trạng sẵn sàng hoạt động. Dù không được đúng như những gì hãng
quảng cáo, nhưng với thời gian như vậy cũng đã được coi là khá nhanh so
với các đối thủ khác trên thị trường.
Mặc
dù được trang bị hệ thống chống rung quang học MEGA O.I.S, nhưng FH5
không cho phép lựa chọn giữa các chế độ chống rung như PowerShot A3300
IS mà chỉ cho phép lựa chọn bật hoặc tắt chức năng này.
Chất lượng hình ảnh
Để
thử nghiệm độ ổn định hình ảnh, FH5 được zoom từ tiêu cự rộng nhất tới
tiêu cự dài nhất (112mm) với chế độ ảnh ở mức Normal và chụp với các tốc
độ cửa trập khác nhau, mỗi tốc độ được chụp với chế độ chống rung bật
và tắt.
Các
ảnh phóng dưới đây được chụp với ISO 100, tốc độ 1/10. Bức bên trái là
chế độ chống rung tắt, bên phải là chế độ chống rung bật. Về lý thuyết,
với điều kiện như trên, để ảnh không rung, máy ảnh phải được chụp ở tốc
độ 1/100. Với kế quả này có thể nói cơ chế chống rung quang học của
Panasonic hoạt động cũng khá hiệu quả, có thể bù được khoảng 3 stop.
 |  |
| 100% crop, tiêu cự 112mm, tốc độ 1/10, 100 ISO, chế độ Normal Picture, MEGA O.I.S. tắt. | 100% crop, tiêu cự 112mm, tốc độ 1/10, 100 ISO, chế độ Normal Picture, MEGA O.I.S. bật. |
Tương
tự như các phiên bản du lịch khác, Lumix FH5/FH5 cũng được trang bị
tính năng tự động lấy nét dựa trên nhận diện khuôn mặt với tốc độ nhận
diện tốt, nhanh ở trong điều kiện ánh sáng thường. Với điều kiện ánh
sáng yếu và đối tượng chụp hơi xa, cơ chế này hoạt động chậm và ít tin
cậy hơn. Tuy nhiên, so với các đối thủ, tính năng này còn khá cơ bản,
thiếu vắng các lựa chọn phụ trợ tiên tiến khác như lựa chọn khuôn mặt,
nhận diện nụ cười, nhận diện chớp mắt hay tự động kích hoạt chụp hẹn giờ
khi nhận diện khuôn mặt như trên bản PowerShot A3300 IS.
Nếu
không nhận diện người hiển thị trong khuôn hình, tính năng lấy nét dựa
trên khuôn mặt mặc định trên chế độ tự động thông minh Intelligent Auto
sẽ được tự động chuyển về tính năng lấy nét điểm với 11 điểm nét cho
trước. Thêm vào đó, khả năng bám nét khá hiệu dụng. Tuy nhiên, tương tự
như nhận diện khuôn mặt, nó chỉ hoạt động hoàn hảo với môi trường ánh
sáng tốt.
Màn
hình 2,7 inch với độ phân giải dù chỉ 230.000 điểm ảnh trên FH5/FH5
nhưng hiển thị tốt, độ tương phản cao. Tuy nhiên, nếu nhìn trực tiếp
dưới ánh mặt trời, màn hình hiển thị kém dù máy có cơ chế kích sáng và
tự động chuyển chế độ xem ngoài trời. Bù lại tính năng mở rộng góc nhìn
High Angle khá hữu dụng khi chụp máy ở những góc phải giơ cao quá đầu.
Các chế độ chụp và so sánh với đối thủ
Ở
chế độ chụp thông thường, nút truy cập nhanh Q.Menu (nút xóa ở chế độ
xem ảnh) cho phép người dùng truy cập nhanh đến các tính năng như ổn
định hình ảnh, chụp liên tục, chế độ lấy nét, cân bằng trắng, ISO, kích
cỡ ảnh chụp… Các tính năng chuyên sâu hơn được đẩy vào trong hệ thống
menu truy cập qua nút Menu/Set ở giữa phần phím điều hướng.
Chế
độ tự động thông minh Intelligent Auto trên FH5 sẽ tự động nhận diện
cảnh và tự điều chỉnh các thông số phơi sáng tối ưu cho từng điều kiện
chụp với các cảnh được đặt sẵn, như Chân dung (Portrait), Phong cảnh
(Scenery), Cận cảnh (Macro), Chân dung đêm (Night Portrait), Cảnh đêm
(Night Scenery), Hoàng hôn (Sunset) hay chụp Trẻ em (Baby). Ở chế độ
này, ISO cũng sẽ được tự động điều chỉnh cho phù hợp với từng điều kiện
chụp và không thể chỉnh được. Để chỉnh ít nhất phải chuyển về chế độ
Normal Picture (hay chế độ lập trình Program trên các phiên bản khác).
Ngoài
các mặc định kể trên, FH5 còn có nhiều chế độ khác từ thể thao, chụp
nến, chụp chân dung đôi, vật nuôi hay chụp ISO cao (tới 6.400 với độ
phân giải 3 triệu điểm)… Người dùng cũng có thể sử dụng tính năng "My
Scene" để đưa các chế độ ưa thích vào danh sách truy cập nhanh tiện dụng
cho việc lựa chế độ sau này.
Ở
chế độ quay phim, Lumix FH5 có thể quay video HD 720p tốc độ 24 khung
hình/giây với định dạng .MOV. Video được nén chuẩn MJPEG với chất lượng
khoảng 25 Mb/giây, cho phép một thẻ 2GB quay được khoảng 11 phút. Đây
cũng là dung lượng tối đa cho mỗi đoạn video mà FH5 hỗ trợ, vì thế, nếu
muốn quay dài hơn một chút, người dùng phải hy sinh bớt chất lượng. Tuy
nhiên, kể cả trong trường hợp này, độ dài tối đa của mỗi đoạn cũng không
vượt quá 15 phút.
So
với FH5, phiên bản đối thủ PowerShot A3300 IS sử dụng chuẩn nén H.264
hiệu quả hơn dù độ dài, kích cỡ và bitrate cũng tương tự. Tuy nhiên, sử
dụng H.264 cho phép A3300 IS có chất lượng hình ảnh dễ đẹp hơn so với
video MJPEG cùng bitrate. Cả hai máy đều không cho phép zoom quang trong
khi quay phim.
Ở
chế độ chụp liên tục, sử dụng với thẻ Lexar Professional 16GB SDHC 133x
Class 10, chế độ chụp Normal Picture với chất lượng tối đa 16 triệu
điểm ảnh, FH5/FH5 có thể chụp 10 ảnh liên tiếp với tốc độ khoảng 1,4
khung hình/giây. Sau 10 hình đầu tiên này, tốc độ sẽ sụt giảm chỉ còn
một nửa.
Để
tăng tốc, người dùng có thể chụp ảnh ở chế độ Hi-Speed Burst. Ở chế độ
này, chất lượng ảnh chỉ giới hạn 3 triệu điểm (2.048 x 1.536 pixel)
nhưng chụp được tới 51 ảnh với tốc độ trung bình 3,75 khung hình/giây.
Mặc dù cũng thuộc hàng nhanh so với đối thủ A3300 IS nhưng vẫn không
hiệu quả như trên các máy DSLR và nhất là không như Panasonic quảng cáo
với tốc độ 6 khung hình/giây.
 |
Ảnh chụp bằng máy Panasonic Lumix LX5. Ảnh: Cameralabs. |
Để
so sánh chất lượng ảnh chụp đời thực khi zoom, các bức ảnh trên được
chụp với Panasonic Lumix FH5 và Canon PowerShot A3300 IS, ảnh JPEG đặt ở
chế độ chất lượng cao nhất. Tiêu cự trên cả hai máy được đặt cùng một
góc nhìn. Chế độ ảnh đặt ở mức thông thường (Normal Picture trên FH5 và
Program trên A3300 IS) và ISO ở mức thấp nhất.
Bức
ảnh trên được chụp với máy Panasonic Lumix FH5 với ống kính ở tiêu cự
rộng nhất (28mm), tốc độ 1/125, độ mở f/9 và ISO 100. Bức ảnh có độ phân
giải 4.608 x 3.456 điểm ảnh, có kích cỡ 6,05 MB. Các vùng được đánh dấu
đỏ sẽ được phóng to 100% để so sánh.
Về
mặt tổng thể, chất lượng hình ảnh ngoài trời của Lumix FH5/FH5 tốt, chi
tiết vùng tối vẫn hiển thị tương đối rõ với các tùy chỉnh phơi sáng khá
chính xác. Tuy nhiên, việc chọn thông số phơi sáng tự động (1/125, f/9)
không hiệu quả, làm cho bức ảnh giảm chất lượng do rung nhiễu trong khi
hoàn toàn có thể đẩy tốc độ cao hơn và độ mở rộng hơn. Trong các máy
chụp để so sánh (FH5, FS16, A3200 IS, A3300 IS), chỉ có bản A3200 IS là
tự động lựa chọn thông số tốc độ nhanh hơn và độ mở lớn hơn.
Chi
tiết hiển thị trên các bức ảnh phóng to không mấy xuất sắc. Phần đỉnh
của nhà thờ trông tệ nhất khi các chi tiết viền mờ nhạt, dấu thánh giá
quá nhòe và cửa sổ thì không thành hình rõ rệt.
Các
bức còn lại cũng cho những kết quả tương tự khi chất lượng ảnh mờ,
thiếu chi tiết, hiện tượng viền tím nổi khá rõ. Chỉ có bức cuối là trông
khá khẩm một chút với chữ trên băng rôn và chi tiết cửa sổ của tòa nhà
phía sau rõ hơn, có lẽ do vùng crop này gần trung tâm của bức ảnh lớn
hơn.
| Panasonic Lumix FH5 | Panasonic Lumix FH2 | Canon PowerShot A3300 IS |
 |  |  |
| f9, 100 ISO | f9, 100 ISO | f8, 80 ISO |
 |  |  |
| f9, 100 ISO | f9, 100 ISO | f8, 80 ISO |
 |  |  |
| f9, 100 ISO | f9, 100 ISO | f8, 80 ISO |
 |  |  |
| f9, 100 ISO | f9, 100 ISO | f8, 80 ISO |
Tất
nhiên các so sánh ở đây thực ra đều được thực hiện ở mức cường điệu hóa
trên từng điểm ảnh để hình dung rõ hơn về chất lượng ảnh. Thực tế nếu
không phải rửa ảnh lớn hay phóng to ảnh trên màn hình thì các chi tiết
này cũng không thành vấn đề gì nhiều. Chỉ có điều kết quả từ bản FH5 với
số điểm ảnh lớn hơn bản FS16 rẻ tiền hơn cũng không có nhiều khác biệt
đáng kể.
Đặt
cạnh các bức phóng to, chất lượng ảnh trên bản Lumix FS16/FH2 thậm chí
còn tốt hơn bản FH5. Dù ít điểm ảnh hơn nhưng ảnh của phiên bản này thể
hiện độ tương phản tốt hơn, hiển thi chi tiết cạnh sắc nét hơn.
Chi
tiết cạnh trên Canon PowerShot A3300 IS vượt cả hai phiên bản của
Panasonic nếu xét về độ sắc nét và chi tiết. Tuy nhiên, nền trời của
A3300 IS lại bị nhiễu hạt hơn so với Panasonic. Hiện tượng viền tím trên
bức phóng to thứ 3 cũng vẫn xuất hiện, tuy nhiên ở bức cuối cùng, chi
tiết và màu sắc của A3300 IS vẫn vượt trội hơn hai phiên bản kia.
Nhận xét
Phiên
bản Panasonic Lumix FH5 với một số cải tiến nhỏ như mỏng hơn 20% so với
FH3, nhiều hơn 2 triệu điểm ảnh so với cả bản tiền nhiệm FH3 và bản anh
em FH2 nhưng zoom quang lại giảm xuống 4x. Với góc rộng vẫn được duy
trì 28mm, kết hợp với các chế độ tự động thống minh và lợi thế thân hình
gọn nhẹ, FH5 hướng tới đối tượng bình dân thích đút máy túi quần và
cũng không quá cầu kỳ săm soi về chất lượng ảnh.
So
với bản cùng thời FH3, khó có thể đánh giá FH5 nổi bật ở điểm nào ngoại
trừ số điểm ảnh nhiều hơn 2 Megapixel, còn các thông số, cấu hình khác
gần như là tương tự. Mặc dù số điểm ảnh lớn hơn một chút có thể giúp ảnh
in ra phóng được to hơn, nhưng nếu không phải in phóng lớn, FH3 có vẻ
lại là lựa chọn hợp lý hơn bởi chất lượng ảnh thực tế còn vượt cả FH5,
chưa kể mức giá còn thấp hơn dù không nhiều.
Còn
so với đối thủ đến từ Canon, bản A3300 IS cũng với 16 triệu điểm ảnh và
quay phim HD 720p, Lumix FH5 mỏng hơn một chút (5mm), nhẹ hơn nên dễ
đút túi quần hơn. Tuy nhiên, zoom quang phiên bản này lại chỉ có 4x
trong khi A3300 IS là 5x với tiêu cự tele tới 140mm so với chỉ 112mm của
FH5. Màn LCD cũng nhỏ hơn so với 3 inch của A3300 IS. Dù số lượng các
cảnh mặc định của FH5 nhiều hơn A3300 IS nhưng tính năng và độ hiệu dụng
lại không qua mặt được Canon với các chế độ như Live View Control,
Creative filters hay Smart shutter nhận diện chớp mắt hay khuôn mặt… Dù
đắt hơn một chút so với FH5 nhưng với các tính năng và độ dễ sử dụng,
cùng với chất lượng ảnh nhỉnh hơn một chút, nhiều người có thể sẽ vẫn ưa
thích A3300 IS hơn.
Tất
nhiên, cũng không nên trông đợi quá nhiều đối với một phiên bản bình
dân như FH5, nhưng ít ra phiên bản này đã đáp ứng được những yêu cầu cơ
bản như tự động thông minh, điểm ảnh lớn, quay phim HD và độ gọn nhẹ.
Với những khác biệt không đáng kể từ cả phiên bản tiền nhiệm lẫn các đối
thủ, FH5 không đủ nổi bật để ngừoi tiêu dùng phải băn khoăn lựa chọn
nhưng nếu nằm trong khoảng giá người dùng dự định chi tiêu, đây vẫn là
phiên bản thích hợp mà không gây quá nhiều thất vọng.
Theo Sohoa